Điều trị ung thư

10 loại bệnh ung thư khó chữa nhất

Ở Phương Tây bệnh ung thư được coi như bệnh mạn tính trong khi tại Việt Nam bị coi là án tử. Đó là do góc nhìn trong quan điểm của mỗi nền văn hoá khác nhau nhưng phát hiện sớm hoàn toàn có thể chữa chạy được. Tuy nhiên dưới đây là 10 loại bệnh ung thư khó chữa nhất:

Ung thư Lympho không Hodgkin

Ung thư Lympho không Hoggkin là loại bệnh ung thư có những ảnh hưởng đến một loại tế bào bạch huyết gọi là tế bào lympho, do đó nó còn có tên gọi khác là ung thư hạch bạch huyết. Triệu chứng thường gặp của bệnh là là sốt, hạch to và giảm cân. Theo thống kê, trong năm 2010, có đến 210.000 ca tử vong trên toàn cầu vì căn bệnh này.

Ung thư Lympho không Hodgkin 1

Ung thư buồng trứng

Bệnh ung thư buồng trứng làm một trong những căn bệnh ung thư đường sinh dục phổ biến nhất ở nữ giới, thường chỉ đứng sau ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, theo số liệu thì tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng tại Hà Nội là 4,4/100.000 người, còn ở TP.HCM là 3,7/100.000 người. Nguyên nhân gây ra căn bệnh này thường là do yếu tố nột tiết, sinh sản, chế độ dinh dưỡng, các yếu tố môi trường và cả ảnh hưởng của yếu tố di truyền.

Ung thư máu (Ung thư bạch cầu)

Ung thư bạch cầu – hay còn gọi là bệnh ung thư máu hay bệnh máu trắng. Đây là căn bệnh ung thư ác tính, thường xuất hiện khi các tế bào bạch cầu trong cơ thể tăng đột biến. Chúng trở thành những tế bào “ác tính”, ngoài việc tấn công và tiêu diệt các virus gây bệnh cho cơ thể, chúng còn tấn công cả các tế bào hồng cầu. Khi hồng cầu giảm sút, người bệnh có thể bị mất máu dẫn đến tử vong. Hiện tại, phương pháp điều trị phổ biến nhất cho căn bệnh này là ghép tủy, cấy tế bào gốc, hóa trị liệu…

Ung thư máu (Ung thư bạch cầu) 1

Ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tiền liệt tuyến – hay có tên gọi khác là ung thư tuyến tiền liệt. Đây là căn bệnh ung thư ở tuyến tiền liệt, một bộ phận trong hệ sinh dục của nam giới. Bệnh thường phát triển chậm, và có thể di căn tới một số cơ quan khác của cơ thể như xương, hạch bạch huyết. Tùy vào những giai đoạn khác nhau của bệnh sẽ có những biểu hiện khác nhau. Một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới tiên lượng của người mắc bệnh này là tuổi tác, sức khỏe, mức độ di căn và kích thước khối u. Phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh này là phẫu thuật, xạ trị, xạ phẫu, liệu pháp proton, điều trị nội tiết tố, hóa trị…

Ung thư gan

Bệnh ung thư gan được xem là căn bệnh ung thư phổ biến nhất trên toàn thế giới. Bệnh thường không có biểu hiện rõ ràng ở các giai đoạn sớm. Thông thường, các dấu hiệu sớm của bệnh ung thư gan có thể nhận biết được là sút cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, đau thượng vị, buồn nôn nhiều, gan to, vàng da, vàng mắt, nước tiểu có màu tối…. Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh ung thư gan được cho là từ virus viêm gan B, ngoài ra rượu cũng được xem là thủ phạm hàng đầu gây ra căn bệnh này.

Ung thư tuyến tụy

Ung thư tuyến tụy xảy ra khi các tế bào trong tuyến tụy, một cơ quan nằm sau dạ dày, bắt đầu tự sinh sôi khỏi tầm kiểm soát và tạo thành một khối rắn. Các tế bào ung thư có khả năng xâm nhập vào các bộ phận khác của cơ thể. Các dấu hiệu và triệu chứng của các hình thức phổ biến nhất của ung thư tuyến tụy có thể bao gồm vàng da, đau bụng hoặc lưng, giảm cân không giải thích được, phân lỏng có màu, nước tiểu sẫm màu và mất cảm giác ngon miệng.

Ung thư vú

Mặc dù đa phần người bệnh mắc ung thư vú là nữ giới, nhưng vẫn có tỷ lệ nam giới mắc căn bệnh này. Bệnh gây ra do sự đột biến của các tế bào ở vú. Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được kết luận chính thức. Mặc dù vậy, vẫn có cơ hội chữa khỏi hoặc kéo dài thời gian sống tới 20 năm nếu như phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Các phương pháp điều trị ung thư vú phổ biến hiện nay là phẫu thuật cắt bỏ, hóa trị, xạ trị và liệu pháp toàn thân.

Ung thư vú 1

Ung thư đại tràng

Thường xảy ra ở người tuổi từ 50-75, là căn bệnh phổ biến thứ 3 trên thế giới và gặp phổ biến hơn ở các nước đang phát triển. Theo ước tính trên toàn thế giới trong năm 2008, có gần 1.23 triệu trường hợp ung thư đại tràng được chẩn đoán lâm sàng và khoảng 608.000 người đã chết. Đến năm 2010, nó gây ra khoảng 715.000 người tử vong.

Ung thư dạ dày

Bệnh ung thư dạ dày có thể phát triển từ bất kỳ cơ quan nào trong dạ dày của người bệnh. Triệu chứng ban đầu của bệnh ung thư dạ dày thường không rõ ràng. Một số triệu chứng sớm của bệnh có thể nhận ra là sụt cân không rõ nguyên nhân, khó tiêu, ợ chua, mất ngon miệng, đặc biệt là với món thịt, thường xuyên buồn nôn, cơ thể mệt mỏi… Nguyên nhân gây ra bệnh được cho là do nhiễm khuẩn Helicobacter pylori, ngoài ra, những người sinh hoạt không điều độ, ăn không đúng bữa hoặc suy nghĩ quá nhiều cũng có nguy cơ cao mắc bệnh này. Các phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh này là phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và điều trị kết hợp. Để phòng ung thư dạ dày, chúng ta nên có một chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp, tránh làm việc quá căng thẳng trong 1 thời gian dài, kiêng rượu bia và phòng tránh các bệnh lý khác của dạ dày như viêm dạ dày, loét dạ dày…

Ung thư phổi

Ung thư phổi được chia làm hai loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, tuỳ thuộc vào hình dạng tế bào dưới kính hiển vi. Mỗi loại ung thư phát triển và lan theo những cách khác nhau và được điều trị ung thư phổi theo các cách khác nhau. Nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư phổi được cho là từ khói thuốc lá. Các nguyên nhân khác có thể kể ra như phóng xạ radon, khói bụi công nghiệp… Triệu chứng của bệnh thường là ho dai dẳng, khó khỏi, ho ra máu, sụt cân không rõ lý do, mất cảm giác ngon miệng…

Cơ hội điều trị cho bệnh nhân ung thư

Người ta thường nói ung thư là bạn của thần chết. Điều này ngày nay không còn hoàn toàn đúng. Với sự phát triển của Y học và những tiến bộ khoa học kỹ thuật, các bác sỹ đang dần khám phá ra nhiều hơn cánh cửa hy vọng cho các bệnh nhân mắc bệnh ung thư. Thực tế là bằng nhiều biện pháp điều trị kết hợp, đã có không ít trường hợp mắc bệnh ung thư mà có thể chữa khỏi được, hoặc ít nhất cũng là kéo dài thời gian sống nhiều hơn so với tiên lượng ban đầu

Nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân ung thư được Tổ chức y tế thế giới coi như là mục tiêu xuyên suốt quá trình điều trị. Bởi lẽ, tác dụng phụ của các Hóa – xạ trị được giảm thiểu tối đa thì sức khỏe, thể trạng người bệnh sẽ được tăng lên đáng kể.

Trong gần 100 năm, các nhà khoa học đã chú ý đến Beta Glucan, một hoạt chất được chiết xuất từ Nấm đông trùng và nấm men có tác dụng kháng u vượt trội. Đối với bệnh nhân ung thư sử dụng phương pháp hóa – xạ trị, việc sử dụng Beta Glucan liều lượng cao vừa hiệp đồng làm tăng tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư, còn ức chế quá trình hình thành mạch máu mới từ đó cắt đứt nguồn nuôi dưỡng khối u từ đó làm giảm quá trình di căn.

Hơn nữa, Beta Glucan còn có khả năng tăng cường số lượng và hoạt lực của các tế bào miễn dịch trong cơ thể và làm giảm các tác dụng phụ hay gặp của hóa – xạ trị như nguy cơ hình thành huyết khối, giảm số lượng bạch cầu, hồng cầu, chán ăn, sút cân, rụng tóc…

Sau khi phẫu thuật loại bỏ khối u, các bác sỹ thường chỉ định bệnh nhân sử dụng thêm phương pháp hóa trị, xạ trị nhằm loại bỏ các tế bào ung thư còn sót lại, tránh nguy cơ tái phát khối u. Tuy nhiên, trong trường hợp này thể trạng bệnh nhân thường bị suy yếu, các chỉ số về công thức máu như hồng cầu, bạch cầu… chưa đủ để đáp ứng với yêu cầu của hóa – xạ trị, sử dụng Beta Glucan sẽ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn đàm bảo có sức khỏe để tiếp tục thực hiện phương pháp điều trị kế tiếp.

Với những bệnh nhân không thể tiến hành hóa – xạ trị, Beta Glucan có tác dụng tăng cường sức mạnh của hệ thống miễn dịch, từ đó làm thể trạng người bệnh trở nên tốt hơn giúp đáp ứng được yêu cầu về mặt sức khỏe trước khi sử dụng các phương pháp điều trị ung thư truyển thống hóa – xạ trị.

Ngoài ra, Beta Glucan còn giúp tiêu diệt tế bào ung thư, ức chế quá trình di căn của tế bào . và làm giảm sự phát triển của khối u. Từ đó kéo dài chất lượng sống và thời gian sống cho người bệnh.

  • Kích thích tế bào ung thư tự chết theo chương trình.
  • Ngăn chặn quá trình hình thành mạch máu mới, qua đó cắt đứt nguồn nuôi dưỡng tế bào ung thư và giảm quá trình di căn.
  • Tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch.
  • Hạn chế tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị
  • Chống oxy hóa, bảo vệ cơ thể trước sự tấn công của các gốc tự do – nguyên nhân sinh ra tế bào ung thư.

Các tin liên quan